Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Trao đổi pháp luậtThứ 4, Ngày 14/12/2022, 16:00

Trao đổi vướng mắc về hướng xử lý của Tòa án khi người yêu cầu mở thủ tục phá sản có đơn xin rút yêu cầu mở thủ tục phá sản

Luật Phá sản năm 2014 ra đời sau đó là các văn bản hướng dẫn thi hành đã khắc phục nhiều quy định không khả thi của Luật Phá sản năm 2004. Tuy nhiên, bên cạnh những quy định đã đầy đủ, rõ ràng vẫn còn một số nội dung chưa cụ thể khi áp dụng vào thực tế, đó là trường hợp người có Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nộp Đơn xin rút yêu cầu mở thủ tục phá sản.

* Về chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Căn cứ vào quy định tại Điều 5 Luật Phá sản năm 2014, các chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm:

        - Chủ thể có quyền nộp Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

        + Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần;

        + Người lao động, Công đoàn cơ sở, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập Công đoàn cơ sở;

        + Đối với Công ty Cổ phần thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi Công ty Cổ phần mất khả năng thanh toán. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi Công ty Cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ Công ty quy định;

        + Thành viên Hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã thành viên của Liên hiệp Hợp tác xã.

        - Chủ thể có nghĩa vụ nộp Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

        + Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp, Hợp tác xã;

        + Chủ Doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của Công ty hợp danh.

        Theo quy định tại các Điều từ 26 đến 29 Luật Phá sản năm 2014 thì khi yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản, các chủ thể trên phải làm Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.  

 

        * Khi người yêu cầu mở thủ tục phá sản có Đơn xin rút yêu cầu mở thủ tục phà sản:

 

        Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 35 Luật Phá sản năm 2014 thì Tòa án nhân dân trả lại Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi:

        “Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật này”.

        Khoản 2 Điều 37 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án nhân dân trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”.

        Từ quy định trên có thể hiểu: Trước khi Tòa án thụ lý Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thương lượng được với nhau về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án sẽ ra Quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Phá sản năm 2014: “Quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải nêu rõ lý do trả lại đơn. Tòa án nhân dân có trách nhiệm gửi quyết định này cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định”.

 

        Vấn đề phát sinh là trong trường hợp sau khi Tòa án đã thụ lý Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 39 Luật Phá sản năm 2014 mà người có Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có Đơn xin rút yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án xử lý như thế nào?.  

 

 

        Theo quy định tại Điều 86 Luật Phá sản năm 2014:

        Điều 86. Đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản

 

        1. Kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản đến trước ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản.

 

 

        Doanh nghiệp, hợp tác xã phải hoàn trả tạm ứng chi phí phá sản cho người nộp đơn, trừ trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật này.

 

 

        2. Quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản phải được gửi cho những người được thông báo quyết định mở thủ tục phá sản quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.

 

        Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người tham gia thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết thủ tục phá sản về quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản”.

        Như vậy, Điều 86 Luật Phá sản năm 2014 quy định về trường hợp đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản nhưng không có lý do người có Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn trong giai đoạn này.

        Ngày 18/12/2020, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Văn bản số 199/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong giải quyết phá sản trong đó tại Mục 23 có hướng dẫn:

        Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật Phá sản về đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản thì kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản đến trước ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản. Như vậy, sau khi mở thủ tục phá sản mà người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu thì giải quyết như sau:

        Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ duy nhất hoặc tất cả các chủ nợ đều thống nhất việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án xem xét quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật Phá sản

nếu có căn cứ xác định doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản đã thanh toán hết nợ cho tất cả các chủ nợ hoặc có thỏa thuận giữa các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã về việc gia hạn trả nợ. Trường hợp này cần phải coi là doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán vì không còn khoản nợ đến hạn chưa thanh toán.

 

        Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã còn có những chủ nợ khác thì Tòa án căn cứ kết quả triệu tập Hội nghị chủ nợ, Nghị quyết Hội nghị chủ nợ để có cơ sở xác định doanh nghiệp, hợp tác xã có thực sự mất khả năng thanh toán hay không để quyết định theo Điều 86 Luật Phá sản.

        Theo hướng dẫn này thì sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản nhưng người có Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút Đơn thì Tòa án vẫn có quyền đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 86 Luật Phá sản năm 2014.

        Tuy nhiên, hướng dẫn trên vẫn chưa giải quyết triệt để và bao quát hết vấn đề có thể phát sinh trên thực tế, bởi lẽ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Luật Phá sản năm 2014 thì: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thẩm phán phải ra Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trừ trường hợp quy định tại Điều 105 của Luật này”. Tại Điều 86 Luật Phá sản năm 2014 cũng như Văn bản số 199/TANDTC-PC ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân tối cao chỉ hướng dẫn trường hợp Tòa án đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản khi người nộp Đơn yêu cầu mở thủ thục phá sản rút đơn sau khi Tòa án đã ra Quyết định mở thủ tục phá sản. Đối với trường hợp sau khi Tòa án đã thụ lý Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà chưa ra Quyết định mở thủ tục phá sản (còn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý) nhưng người nộp Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản lại có Đơn xin rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì xử lý như thế nào? Có đình chỉ hay không? Và đối với các chủ thể khác (không phải giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán) có quyền và nghĩa vụ nộp Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 5 Luật Phá sản năm 2014 rút Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì có được áp dụng tương tự hay không?.

        Thiết nghĩ Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn cần có sửa đổi, bổ sung để hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp này để có cơ sở vận dụng vào thực tế khi tình huống phát sinh./.

 
 

Người viết: Nguyễn Thị Bảo Trân - Phòng 10

 


Số lượt người xem: 70Bản in Quay lại
Xem theo ngày: